Căn Nguyên Của Đại Thừa Phật Giáo
Căn Nguyên Của Đại Thừa Phật Giáo
Tông chỉ của Phật giáo Đại thừa là đi sâu vào bản hoài của đức Phật, bỏ qua vấn đề chi mạt. Phân tích và chú thích sâu rộng về mọi vấn đề, đưa sự hoạt bát vốn có của Phật pháp đi vào lĩnh vực sinh hoạt trong nhân gian, vừa thực dụng vừa phổ biến. Bằng tinh thần đó mới hiểu được những ghi chép trong Bản Sinh Đàn của đức Phật. Phật giáo Đại thừa nắm vững nguyên tắc Tam pháp ấn của giáo pháp mà phát huy tinh thần của đức Phật, đó là lấy việc cứu tế chúng sinh làm mục đích của bản hoài - tâm Bồ Đề của Bồ tát đạo.
Tết 2015
 
Nổi bật
Bài mới đăng
Xem nhiều


Một Số Vấn Đề Về Nghiệp
Trong Đại kinh Saccaka (kinh số 36, thuộc Trung bộ kinh I) đức Phật đã nói rõ điều này: “Ta nhớ lại nhiều kiếp quá khứ mà ta đã trải qua: một đời, hai đời, ba, bốn, năm, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, một trăm, một ngàn, một vạn trong nhiều thành kiếp, hoại kiếp của thế giới… Ta biết ta đã từng ở đâu, tên họ là gì, thuộc gia tộc, đẳng cấp nào, lối sống ra sạo. Ta đã trải qua các sự vui khổ, an lạc hạnh phúc, rồi mệnh chung. Sau khi thân hoại mệnh chung (chết), ta lại tái sinh nơi khác, với tên họ như vậy, như vậy, và rồi mệnh chung như vậy. Bằng cách này, ta nhớ lại các đời sống quá khứ với nhiều đặc điểm trong nhiều hoàn cảnh”, “Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vượt tri kiến phàm tục, ta thấy cách chúng hữu tình sinh tử như thế nào. Ta thấy rõ cao sang hay thấp hèn, hạ liệt, thông minh hay ngu đần, mỗi người đều tái sinh cõi lành hay cõi dữ tùy theo hạnh nghiệp của mình, và ta biết rõ: Những ai đã tạo ác nghiệp về thân, khẩu, ý, sau khi thân hoại mệnh chung sẽ tái sinh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Những ai tạo thiện nghiệp về thân, khẩu, ý sẽ được tái sinh cõi lành (cõi trời hoặc cõi đời này).

Tu tập là phải bảo toàn Đạo Pháp thật tinh khiết
Đức Phật dạy rằng nếu đem Đạo Pháp của Ngài đặt vào con tim của một người bình dị thì nhất định là nó sẽ bị biến dạng (saddhamma-patirupa; sad có nghĩa là đúng đắn, dhamma có nghĩa là Đạo Pháp,patipura có nghĩa là lệch lạc, do đó có thể hiểu các chữ saddhamman-patirupa là "Đạo Pháp đúng đắn không bị lệch lạc" hay bóp méo). Trái lại nếu đặt nó vào con tim của một Người Cao Quý (Kalyanamitta) (Kalyanamitta là một từ ghép; kalyana: đạo đức, nhân ái; mitta: bạn hữu, do đó có thể hiểu từ ghép này là "một người bạn đạo hạnh" hay một "người đồng hành đạo đức". Kinh sách bằng các ngôn ngữ Tây Phương thường dịch là Être Noble/Noble One. Kinh sách gốc Hán ngữ dịch là thiện trí thức/shàn zhīshì 善知識, thiết nghĩ cách dịch này không được thích nghi lắm bởi vì ngày nay rất khó hình dung ra những người "thiện trí thức" là những thành phần nào trong xã hội) thì nó sẽ trở nên tinh khiết, và sẽ không bao giờ phai mờ hay u tối.

Tượng Thánh Tăng và Đức Ông chùa Mía và chùa Bút Tháp
 Dựa trên ba tấm văn bia đặt ở toà tiền đường và dưới cổng tam quan của chùa, ta có thể biết rằng các pho tượng thổ phủ sơn này tạo vào khoảng tiền bán thế kỷ XVII. Tấm bia văn dựng trước toà tiền đường có niên đại năm 1632 cho chúng ta biết rằng cung tần Nguyễn Thị Rong (về sau được tôn xưng là bà Chúa Mía), vợ của chúa Trịnh Tráng, người ở vùng này, đã bỏ tiền của vàng bạc xây dựng chùa Mía vào năm 1632.
CHÙA QUÁN SỨ
Chùa ở thôn An Tập, huyện Thọ Xương (nay là 73 phố Quán Sứ, Hà Nội). Là nơi danh thắng nổi tiếng của đất Bắc Hà. Chùa thờ Không Lộ Thiền sư đời Lý. Thiền sư họ Dương, người ở Hải Thanh thuộc lộ Thiên Trường (nay là Hà Nam) nhà mấy đời làm nghề đánh cá, đến đời Không Lộ bỏ nghề đi tu, chuyên chú tu trì pháp môn Đà La Ni. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059 – 1065) Sư cùng Giác Hải đi vân du cõi ngoài, đến chùa Hà Trạch, ăn rau mặc lá, quên cả thân mình, dứt hết mọi điều mong muốn, chuyên chú thiền định. Từ đó thấy tâm thần, tai mắt ngày càng sáng láng thông tỏ, có muôn ngàn phép lạ, bay trên không, đi dưới nước, hàng long phục hổ. Sư về bản quận dựng chùa trụ trì. Sư từng tu ở các chùa Hà Trạch, chùa Nghiêm Quang, chùa Chúc Thánh (trên núi Phả Lại nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh)…

» Dự báo thời tiết
 
» Từ điển Online
Từ cần tra:
Tra theo từ điển: